Trong tiết trời ấm áp có pha chút hơi ẩm của những ngày chớm xuân. Chúng tôi cùng với các em Thỉnh Sinh Đa Minh Bùi Chu đã có một chuyến đi tuy không xa nhưng thật ý nghĩa. Đó là chuyến viếng thăm các Cha đang an dưỡng tại nhà hưu dưỡng thuộc Giáo xứ Xuân Hoá. Đối với tôi, đó không chỉ là một cuộc thăm hỏi theo nghĩa thông thường, nhưng là một cuộc gặp gỡ đầy ý nghĩa với những con người đã dành trọn đời mình cho Thiên Chúa và cho Giáo hội. Chuyến đi ấy đã để lại trong tôi nhiều lắng đọng sâu sắc.
Ở nơi ấy, tôi gặp những mái tóc bạc, những bước chân chậm lại, những ánh mắt không còn tinh nhanh, tất cả như mang dấu ấn của thời gian và bệnh tật. Nhưng vượt lên trên tất cả, tôi cảm nhận rất rõ một điều: đức tin của các ngài vẫn bền bỉ, lòng trung thành với ơn gọi vẫn vẹn nguyên. Dù không còn đứng trên tòa giảng, không còn rong ruổi nơi các giáo xứ, các Ngài vẫn tiếp tục thi hành sứ vụ của mình trong thinh lặng, bằng lời cầu nguyện, bằng sự hiến dâng âm thầm, và bằng chính những đau yếu được đón nhận trong niềm tín thác.
Tôi cảm phục các Ngài – không chỉ vì những gì các ngài đã làm trong quá khứ, nhưng vì cách các ngài sống trong hiện tại. Với một con người bình thường, sống tuổi già vốn không phải là điều dễ dàng, hơn thế nữa, đối với các Ngài, những người từng quen với hoạt động, với trách nhiệm, với việc cho đi, thì cuộc sống lúc tuổi đã xế chiều chắc chắn sẽ là một thách đố. Thế nhưng, nơi các Ngài, tôi thấy một sự bình an sâu xa: bình an của những con người đã đặt trọn cuộc đời mình trong tay Chúa, và giờ đây tiếp tục phó thác cả những yếu đuối, những giới hạn cuối cùng cho Ngài.
Trong không gian tĩnh lặng của nhà hưu dưỡng, tôi như nghe vang lên lời “xin vâng” được lặp lại mỗi giờ, mỗi ngày, mỗi tháng và mỗi năm: Xin vâng trong cô tịch, xin vâng trong yếu đuối, xin vâng trong đau đớn, xin vâng trong chờ đợi, và trên hết là xin vâng trong hy vọng và bình an. Tiếng xin vâng ấy tuy âm thầm nhưng lại là một nguồn lương thực không thể thiếu đang nuôi dưỡng Giáo hội hằng ngày. Không còn hiện diện nơi những sinh hoạt mục vụ sôi nổi, các ngài vẫn hiện diện cách sâu xa trong mầu nhiệm hiệp thông của Hội Thánh. Chính trong sự lặng lẽ của tuổi già và những giới hạn thể lý, ơn gọi linh mục được tinh luyện, trở nên trong suốt và trọn vẹn hơn.
Tôi cũng thầm cảm ơn các ngài – cảm ơn vì những hy sinh âm thầm mà giáo phận chúng tôi có lẽ không bao giờ đếm xuể. Như lời cha Bề Trên nhà hưu dưỡng đã chia sẻ: ‘Nếu không có các ngài, sẽ không có chúng ta của ngày hôm nay.’ Thật vậy, dù trải qua bắt bớ và tù đày, đức tin và sự trung thành của các ngài vẫn không hề lay chuyển. Chính nhờ đức tin và sự trung thành ấy, biết bao thế hệ tín hữu đã được nuôi dưỡng qua bàn tay mục tử, qua lời giảng dạy, các bí tích và sự hiện diện bền bỉ của các ngài. Hôm nay, khi các ngài không còn ‘làm việc’ theo nghĩa bên ngoài, tôi càng xác tín rằng ơn gọi linh mục không bao giờ nghỉ hưu; ơn gọi ấy chỉ chuyển sang một hình thức hiến dâng sâu xa và kín đáo hơn, nhưng vẫn rất cần thiết cho đời sống Giáo hội. Các ngài mãi là những cột trụ âm thầm, những nền móng vững chắc để Giáo hội tồn tại và phát triển.
Chuyến viếng thăm ấy cũng trở thành một lời nhắc nhở cho chính tôi. Ơn gọi không được đo bằng thành công, bằng hiệu quả hay tiếng tăm, nhưng bằng sự trung thành cho đến cùng. Trung thành khi còn sức lực đã là ân huệ; trung thành khi yếu đuối, khi không còn được nhìn thấy hay ghi nhận, lại càng là một chứng tá và là một hồng ân cao cả mà Chúa dành riêng cho các Ngài.
Rời nhà hưu dưỡng, tôi mang theo trong lòng một tâm tình biết ơn và một lời cầu nguyện âm thầm: xin Chúa luôn gìn giữ các ngài trong bình an, xin cho các ngài luôn cảm nếm niềm vui của người tôi tớ trung tín, và xin cho chúng con – những người đã, đang và sẽ tiếp bước các ngài trong đời sống dâng hiến phục vụ biết học nơi các ngài bài học của đời dâng hiến: ở lại với Chúa cho đến cuối cùng và ơn gọi không bao giờ nghỉ hưu.
Nt. C. An Lành













