Vào khoảng mười năm về trước, lần đầu tiên tôi được tham dự Đại hội Ơn gọi tổ chức tại Phú Nhai. Khi ấy, tôi chỉ đi vì theo hội đoàn, vì bạn bè rủ rê. Trong khi mọi người đang chăm chú lắng nghe cha giảng tĩnh tâm, tôi lại cùng bạn bè dạo quanh các quán xá hay ngồi tán gẫu cho qua giờ. Thế rồi, một hình ảnh thật đẹp bỗng lướt qua trước mắt khiến tôi không bao giờ quên: hai nữ tu đứng tuổi dắt tay nhau tiến vào thánh đường, trong bộ tu phục trắng tinh và chuỗi tràng hạt đong đưa ngang lưng. Khoảnh khắc ấy – rất đỗi bình dị – lại chạm đến nơi sâu thẳm trong lòng tôi. Từ giây phút ấy, một niềm yêu mến Thiên Chúa và ước ao được trở nên nữ tu Đa Minh Bùi Chu âm thầm được gieo vào tâm hồn tôi – giữa lúc tôi vẫn còn hờ hững và nguội lạnh.
Khi kết thúc những năm đại học, tôi chính thức bước vào Tu viện Phú Nhai với tư cách là một Thỉnh sinh Đa Minh, mang theo bao ngổn ngang và lo lắng. Nhiều lần tôi tự hỏi: tại sao mình lại băn khoăn và đắn đo về điều đã ấp ủ bấy lâu? Có lẽ vì đời sống thỉnh sinh đòi tôi học bài học đầu tiên – từ bỏ. Từ bỏ những cuộc vui với bạn bè, những bữa ăn, lần mua sắm thỏa thích, hay chính chiếc điện thoại – vật bất ly thân của tuổi trẻ. Nhiều người nói rằng: “Từ bỏ như thế thì còn gì là vui, là tự do nữa?” Phải chăng những đắn đo của tôi bắt nguồn từ chính những sự từ bỏ này? Có lẽ nào những thú vui ngoài kia vẫn làm tôi cảm thấy quyến luyến và tiếc nuối? Nhưng thật lạ lùng, khi được sống giữa quý Dì và chị em trong Tu viện, tôi lại cảm thấy bình an và nhẹ nhõm đến lạ.
Thay vì những cuộc vui ồn ào, tôi được chuyện trò thân tình, được lắng nghe và được nâng đỡ trong tình chị em. Thay vì hàng giờ dán mắt vào điện thoại, tôi cùng chị em học tập, lao động, chia sẻ từng niềm vui nỗi buồn. Và hơn hết, khi sống giữa cộng đoàn, tôi học được cách từ bỏ chính cái tôi của mình – bằng những hy sinh bé nhỏ và sự lắng nghe mỗi ngày.
Tuy chỉ mới là Thỉnh sinh trong một thời gian ngắn, nhưng tôi cảm nhận sâu xa rằng: đời sống nơi đây tuy lặng lẽ, nhưng đủ để tâm hồn tôi được nuôi dưỡng và trở nên người bạn thân tình của Chúa Giêsu. Chúng tôi – những con người xa lạ – gặp nhau dưới cùng một mái nhà Đa Minh. Chính tình yêu Chúa đã làm nên mối dây liên kết giữa chúng tôi, để rồi từ người xa lạ, chúng tôi trở thành chị em của nhau.
Cảm ơn các chị luôn động viên em khi em nản lòng chùn bước. Cảm ơn các chị đã luôn cổ vũ, chỉ dạy em những điều em chưa làm tốt. Cảm ơn các chị đã luôn chăm sóc khi em mệt mỏi, ốm đau và kiệt sức. Nhờ các chị, em nhận ra ơn gọi này thật sự là một phép màu của tình yêu.
Nhìn lại hình trình tuy ngắn ngủi ấy, tôi bỗng cảm nghiệm rõ hơn về một câu hát: “Chẳng phải phép màu, tại sao chúng ta gặp nhau?”. Câu hát không chỉ là một sự băn khoăn không lời giải thích về những cuộc gặp ngỡ ngẫu nhiên nhưng đầy sắp đặt mà còn thể hiện niềm vui và lòng biết ơn sự hiện diện của nhau trong cuộc sống này.
Và trong bầu khí Hội dòng đang hân hoan mừng 75 năm thành lập, tôi càng thấm thía hơn vẻ đẹp của “phép màu” này. Bảy mươi lăm năm – là hành trình của biết bao tâm hồn đã để Chúa làm nên điều kỳ diệu qua đời sống hiến dâng. Tôi chỉ là người đang đứng ở ngưỡng cửa, chập chững bước vào hành trình ấy, nhưng chính khi nhìn về quãng đường 75 năm ân sủng, tôi cảm thấy được khích lệ và nâng đỡ biết bao.
Tôi biết mình chỉ là một mảnh ghép rất nhỏ trong bức tranh ấy, nhưng lòng tôi tràn ngập niềm biết ơn vì được bước vào dòng chảy của ân sủng, được góp phần nhỏ bé trong gia đình Đa Minh yêu dấu. Xin tạ ơn Chúa – Đấng vẫn làm nên phép màu nơi những tâm hồn yếu đuối. Xin cảm ơn Hội dòng – nơi tôi được sinh ra lần nữa trong tình yêu và ơn gọi. Và xin cảm ơn chị em – những phép màu bé nhỏ của đời tôi, đã cùng tôi đi, cùng tôi tin, và cùng tôi sống lời “xin vâng”.
Maria Gad – Miền Phú Nhai













