“Xin hát về người Cha có chân dung đã ghi trong hồn tôi.”[1]
Như bao người con tinh thần của Cha, tôi cũng muốn “hát” về Cha – người đã để lại trong tôi một niềm kính yêu vô bờ, người đã ghi trong hồn tôi bao “đường nét không sao phai mờ.”[2] Tâm tình và cảm xúc ấy càng trở nên đặc biệt hơn khi ngày lễ kính Cha đã gần kề – ngày mai thôi.
Dù sống cách Cha hàng chục thế kỷ. Nhưng tôi luôn thấy Cha thật gần. Có lẽ bởi tôi may mắn được là một trong những người con của Cha, được thừa hưởng di sản quý giá Cha để lại. Những di sản khiến tôi luôn trân quý – lòng mến Chúa và thương người, tinh thần hăng say rao truyền chân lý, yêu mến việc sống cùng, sống giữa anh em…
Những di sản ấy – tôi nhớ – tôi khắc ghi vì đã được học biết, được nghe nói không biết bao lần. Rồi hằng năm, khi đến gần những ngày lễ kính Cha. Một lần nữa, những di sản ấy tiếp tục được vang lên. Và như nhiều người con khác, tôi cũng hân hoan “hát” lên lời ngợi khen Cha với lòng tự hào vô bờ.
Đó là một vòng quay rất đều với tôi trong nhiều năm qua.
Nhưng những ngày qua, khi chiêm ngắm sâu hơn về Cha và nghĩ về mình, tôi nhận ra lòng tự hào và mến yêu tôi dành cho Cha chỉ như “thanh la phèng phèng”, bởi bấy lâu nay, ngọn lửa tôi đã nhận, hơi ấm tôi đã hưởng… tôi chỉ dành nó cho riêng mình. Tôi quên mất việc trao lửa cho người khác. Tôi quên làm cho những người xung quanh được “ấm” lên nhờ sự hiện diện của tôi. Ấy là khi…
Tôi quên khích lệ một em tu sinh. Tôi không đau lòng trước những vấp ngã của chị em. Tôi lười cất lời động viên khi ai đó gặp thất bại. Tôi chẳng muốn ủi an khi người bên cạnh gặp đau khổ. Tôi thiếu đồng cảm với người đau yếu, và tôi mặc kệ những thử thách mà người xung quanh đang gặp…
Tôi cũng chẳng hăng say khi thi hành sứ vụ. Lòng nhiệt thành với bổn phận không còn hun đúc tôi. Phần rỗi các linh hồn dường như không phải mối bận tâm hàng đầu của tôi. Thay vì ưu tiên cho việc dạy giáo lý, lưu tâm giáo dục các bạn trẻ, giúp họ trưởng thành trong nhân bản, lớn lên trong đức tin và thay vì chú trọng việc bác ái, mục vụ giáo xứ… tôi chăm lo cho đời sống của riêng mình.
Với lối sống này của tôi, lửa đã không còn là lửa nữa. Vì tôi đã không trao hơi ấm. Tôi đã không lan toả yêu thương. Đó là lý do mà Danh Thánh Chúa chưa toả rạng qua sự hiện diện của tôi.
Tôi thảng thốt…
Nếu khi xưa, Cha Đa Minh không trao ngọn lửa đã được khơi nguồn thì bao người lạc giáo làm sao biết đường quay về? Bao người nghèo khổ làm sao được cứu giúp? Bao người đang chán chường làm sao tìm thấy ánh sáng của niềm hy vọng? Và bao người, trong đó có tôi, làm sao tìm thấy chân-thiện-mỹ qua linh đạo “nói với Chúa – nói về Chúa” như hôm nay?
Tôi cũng thảng thốt…
Nếu khi xưa, các thế hệ đi trước chỉ biết giữ lửa mà không quảng đại trao đi đức tin, trao đi niềm hy vọng, trao đi tinh thần vững mạnh, và sự kiên nhẫn.. Cùng với đó, nếu các bậc tiền nhân của tôi không trao lòng bác ái, không hăng say với việc cứu các linh hồn… thì làm sao Hội dòng của tôi có thể tồn tại cách sống động sau 75 năm như hôm nay và chắc chắn, nếu thiếu sự trao đi ấy, tôi cũng không có nơi để thuộc về như hôm nay.
Tôi thấy biết ơn vì sự quảng đại trao lửa ấy nơi các thế hệ trong Dòng của tôi.
“Cha Đa Minh ơi! tinh thần Cha, con hằng ghi nhớ/ Cha Đa Minh ơi! Lối đường Cha, con nguyện bước theo.”[3] Lạy Cha, xin cho con biết bước theo gương Cha cách trọn vẹn – biết trao lửa cách hăng say vì con đã được cho không, thì cũng phải phải biết cho không như vậy (x. Mt 10,8). Amen.
Têrêsa Đinh
[1] Lời bài Hát Về Cha – Đan Trình.
[2] Ibidem.
[3] Ibidem.













